BƯỚC ĐỘT
PHÁ TỪ NGHỊ ĐỊNH SỐ 263/2026/NĐ-CP: KHƠI THÔNG NGUỒN LỰC, NÂNG TẦM CÁC KHU NÔNG
NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO
Sự ra đời của Luật Công nghệ
cao năm 2025 và mới đây là Nghị định số 263/2026/NĐ-CP của Chính phủ đã đánh dấu
một bước chuyển mình mạnh mẽ về mặt thể chế. Hành lang pháp lý mới này không chỉ
tháo gỡ những "nút thắt" tồn tại nhiều năm qua mà còn mở ra không
gian phát triển đột phá cho các Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
(NNUDCNC) trên cả nước.
Từ Điều 24 Luật Công nghệ cao
2025 đến Nghị định số 263/2026/NĐ-CP
Điểm tựa pháp lý cao nhất cho mô
hình này chính là Điều 24 Luật Công nghệ cao năm 2025. Điều khoản này đã
định hình rõ nét ranh giới địa lý, chức năng cốt lõi của Khu NNUDCNC và giao
Chính phủ quy định chi tiết để đưa luật vào cuộc sống.
Để cụ thể hóa, ngày 01 tháng 7
năm 2026, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định số 263/2026/NĐ-CP Quy
định về Khu NNUDCNC. Đây là văn bản pháp quy toàn diện, chuẩn hóa toàn bộ tiêu
chí, điều kiện, trình tự thành lập, cơ chế quản lý và các chính sách ưu đãi đặc
cách dành riêng cho phân khúc nông nghiệp đặc thù này.
Định vị mục tiêu cốt lõi của
Khu NNUDCNC
Theo quy định mới, các Khu
NNUDCNC không thuần túy là nơi sản xuất nông sản quy mô lớn, mà giữ vai trò là
"hạt nhân công nghệ" với các mục tiêu chiến lược:
Nghiên
cứu & Làm chủ: Thử nghiệm, khảo nghiệm, hoàn thiện và làm chủ các công
nghệ cao, công nghệ chiến lược trong nông nghiệp.
Ươm
tạo & Chuyển giao: Ươm tạo công nghệ, thúc đẩy sự ra đời của các doanh
nghiệp khoa học công nghệ nông nghiệp và thương mại hóa sản phẩm.
Đào
tạo nhân lực: Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ
quá trình chuyển đổi số ngành nông nghiệp.
Kiến
tạo hệ sinh thái: Kết nối các viện nghiên cứu, trường đại học với doanh
nghiệp và hợp tác xã nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Tiêu chí khắt khe để chọn lọc
dự án đầu tư chất lượng
Nghị định số 263/2026/NĐ-CP thiết
lập bộ lọc tiêu chí rõ ràng tại Điều 5 nhằm thu hút các nhà đầu tư thực
chất:
Tiêu
chí chung: Dự án phải ứng dụng công nghệ thuộc Danh mục công nghệ cao được
ưu tiên phát triển do Thủ tướng Chính phủ quy định; đảm bảo tuyệt đối về an
toàn sinh học, an toàn thực phẩm và giảm phát thải khí nhà kính.
Đối
với dự án nghiên cứu ứng dụng: Đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ trực tiếp
tham gia phải đạt ít nhất 70% tổng số người lao động, trong đó số người
có trình độ đại học trở lên phải đạt tối thiểu 85%.
Đối
với dự án sản xuất thử nghiệm: Bắt buộc phải có giải pháp tiết kiệm tài
nguyên đất, nước, năng lượng và có hệ thống truy xuất nguồn gốc rõ ràng.
Đột phá về thẩm quyền và điều
kiện dịch chuyển quy mô
Một trong những điểm mới cốt lõi
của Nghị định là quy trình thành lập, mở rộng và điều chỉnh khu đã được tối giản
hóa nhằm tăng tính chủ động cho địa phương.
Thẩm quyền
quyết định: Nghị định phân cấp triệt để, trao quyền cho Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh xem xét, đánh giá hồ sơ và ra quyết định thành lập, mở rộng hoặc
điều chỉnh khu trên địa bàn quản lý.
Điều
kiện mở rộng: Khu NNUDCNC hiện hữu phải hoạt động hiệu quả, hệ thống hạ tầng
kỹ thuật đã khai thác ổn định và đạt tỷ lệ lấp đầy tối thiểu 60%. Diện
tích đề xuất mở rộng phải liền kề hoặc lân cận để bảo đảm kết nối đồng bộ.
Cơ
chế lồng ghép: Việc xem xét thành lập, mở rộng, điều chỉnh được thực hiện kết
hợp hoặc đồng thời trong quá trình quyết định chủ trương đầu tư, cắt giảm tối
đa thời gian chờ thủ tục hành chính cho doanh nghiệp.
Đòn bẩy từ chính sách ưu đãi
vượt trội
Để thu hút sếu đầu đàn, Nghị định
mang đến những cam kết hỗ trợ tài chính mạnh mẽ nhất từ trước đến nay tại Điều
10:
Hỗ
trợ vốn khoa học: Tài trợ lên đến 100% kinh phí thực hiện nhiệm vụ
khoa học công nghệ theo hình thức liên kết do Nhà nước đặt hàng; hỗ trợ tối đa
100% chi phí mua công nghệ, bí quyết công nghệ để giải mã phục vụ công nghệ chiến
lược quốc gia.
Hỗ
trợ tín dụng dài hạn: Các dự án ứng dụng, thương mại hóa công nghệ cao được
Quỹ hỗ trợ lãi suất vay bằng 70% lãi suất hợp đồng đã ký với tổ chức tín
dụng (không vượt quá 8%/năm) với thời gian ưu đãi lên đến 05 năm.
Bảo
hộ sở hữu trí tuệ: Hỗ trợ 100% chi phí đăng ký, bảo hộ quyền sở hữu
trí tuệ trong nước và tối đa 50% tại nước ngoài.
Ưu
đãi đất đai và hạ tầng xã hội: Miễn nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với
phần diện tích kết cấu hạ tầng dùng chung (p. 16). Các dự án xây dựng nhà ở, cơ
sở lưu trú cho chuyên gia và người lao động tại khu được áp dụng toàn bộ cơ chế
ưu đãi như đối với nhà ở xã hội.
Cởi trói khó khăn: Nghị định
263/2026/NĐ-CP đã "tháo gỡ" những gì?
Trước đây, các Khu NNUDCNC thường
rơi vào tình trạng "đói" vốn hạ tầng, thủ tục chồng chéo và cơ chế quản
lý lỏng lẻo. Nghị định mới ban hành chính là lời giải triệt để cho các bài toán
khó này:
Tháo
gỡ điểm nghẽn thủ tục thông qua "Một cửa liên thông": Cơ quan quản
lý Khu NNUDCNC được ủy quyền trực tiếp hướng dẫn, giải quyết các thủ tục từ đất
đai, xây dựng, môi trường đến lao động, thuế, hải quan. Doanh nghiệp đầu tư vào
Khu giờ đây chỉ cần làm việc với một đầu mối duy nhất.
Khơi
thông dòng vốn xã hội hóa: Nghị định tháo gỡ nút thắt về vốn bằng cách cho
phép và khuyến khích các phương thức đối tác công tư (PPP), tư nhân đầu tư kinh
doanh hạ tầng kỹ thuật. Đồng thời phân định rõ cơ chế quản lý giá dịch vụ hạ tầng
(UBND tỉnh duyệt giá cụ thể hoặc giá trần tùy nguồn vốn), tạo môi trường đầu tư
công bằng, minh bạch.
Đảm
bảo tính ổn định bằng Quy định chuyển tiếp vững chắc: Tại Điều 23,
Nghị định khẳng định các khu đã hoàn thành thủ tục quy hoạch, thành lập trước
ngày 01/07/2026 không phải làm lại thủ tục. Điều này loại bỏ tâm lý lo ngại đứt
gãy chính sách, giúp các chủ đầu tư yên tâm vận hành liên tục.
Nghị định
số 263/2026/NĐ-CP ban hành không chỉ là một văn bản pháp lý thuần túy, mà là một
chiến lược hành động tạo động lực mới cho dòng vốn công nghệ cao chảy vào nông
nghiệp. Ban Quản lý Khu NNUDCNC cam kết đồng hành, hỗ trợ tối đa và áp dụng đầy
đủ các chính sách ưu đãi này để chắp cánh cho các dự án của quý doanh nghiệp
thành công.